Hội chẩn đa chuyên khoa với sự vận dụng các mô thức điều trị, bao gồm các liệu pháp kháng HER2 thế hệ mới kết hợp giúp cá thể hóa điều trị ung thư vú HER2+ từ giai đoạn sớm đến di căn. Phối hợp thuốc và can thiệp tại chỗ giúp duy trì kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống, bảo tồn chức năng nhận thức và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

cập nhật chiến lược mới điều trị ung thư vú her2

Thông tin trên được các chuyên gia chia sẻ tại buổi sinh hoạt khoa học “Quản lý điều trị ung thư vú HER2+ từ giai đoạn sớm đến giai đoạn di căn”, diễn ra ngày 31/10/2026 tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM.

Phát biểu khai mạc chương trình, TTND.TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng, Giám đốc Trung tâm Ung Bướu, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, nhấn mạnh quản lý và điều trị ung thư vú thụ thể HER2+ từ giai đoạn sớm đến giai đoạn di căn đòi hỏi chiến lược tiếp cận đa mô thức, cá thể hóa theo từng người bệnh. Tùy theo giai đoạn và đặc điểm bệnh, các phương pháp điều trị cần được lựa chọn, phối hợp và điều chỉnh phù hợp nhằm tối ưu hóa hiệu quả kiểm soát bệnh, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

pgs samuel ow tham gia trình bày trực tuyến

PGS. Samuel Ow tham gia trình bày trực tuyến về tình hình ung thư vú thụ thể HER2+.

Trong báo cáo “Cập nhật ung thư vú thụ thể HER2+”, PGS. Samuel Ow, Bác sĩ Tư vấn Cao cấp về Ung thư Nội khoa, Khoa Huyết học Ung thư, Viện Ung thư Quốc gia Singapore (NCIS), cho biết, liệu pháp kháng HER2 là nền tảng trong phác đồ điều trị ung thư vú HER2+. Cường độ và trình tự điều trị cần được điều chỉnh dựa trên đặc điểm bệnh, khả năng đáp ứng và nguy cơ của từng người bệnh.

Ở giai đoạn sớm, hóa trị tân hỗ trợ kết hợp kháng HER2 được xem là chiến lược quan trọng, đặc biệt với bệnh ở giai đoạn II–III. Trong đó, các phác đồ không chứa anthracycline như TCHP được ưu tiên nhằm giảm nguy cơ độc tính tim mạch và một số biến cố liên quan anthracycline.

Lưu ý ở nhóm bệnh nhân ung thư vú HER2+ có tiên lượng bất lợi như bướu tiến triển tại chỗ, hoặc không đạt đáp ứng hoàn toàn bệnh lý sau hóa trị quy chuẩn, chúng ta cần các hướng điều trị tăng cường, bao gồm chiến lược được nghiên cứu trong DESTINY-Breast11 (DB11), anthracycline hoặc trastuzumab emtansine (T-DM1) trong bối cảnh phù hợp.

Ở giai đoạn di căn, chiến lược điều trị ung thư vú HER2+ cần cá thể hóa dựa trên đặc điểm sinh học khối u, thời điểm xuất hiện di căn và khả năng dung nạp. Bệnh nhân thuộc nhóm tiên lượng thuận lợi, bao gồm đặc điểm sinh học ít biểu hiện ác tính, thụ thể nội tiết dương tính, trường hợp mắc mới, khối lượng bướu nhỏ, di căn xương đơn thuần, có thể áp dụng phác đồ theo nghiên cứu CLEOPATRA kết hợp điều trị duy trì.

Trong khi đó, nhóm bệnh nhân có tiên lượng kém như sinh học ác tính cao, thụ thể nội tiết âm tính, đột biến PIK3CA, khối lượng u lớn, biến chứng tạng hoặc từng điều trị kháng HER2, cân nhắc các phác đồ theo DESTINY-Breast09 (DB09) trong điều trị bước đầu.

Với di căn não, lựa chọn điều trị phụ thuộc tổn thương hệ thần kinh trung ương và tình trạng bệnh ngoài sọ. Xạ phẫu định vị (SRS) có thể được ưu tiên ở trường hợp tổn thương khu trú, ít triệu chứng và bệnh ngoài sọ được kiểm soát. Khi có nhiều tổn thương hoặc bệnh tiến triển, điều trị toàn thân như trastuzumab deruxtecan (T-DXd) hay phác đồ có tucatinib được cân nhắc theo thể trạng và tiền sử điều trị.

bsckii ngô trường sơn chia sẻ

BS.CKII Ngô Trường Sơn chia sẻ về các biện pháp quản lý, điều trị ung thu vú thụ thể HER2+.

Trong báo cáo “Chiến lược điều trị ung thư vú HER2+ di căn – Ca lâm sàng”, BS.CKII Ngô Trường Sơn, Phó trưởng khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, chỉ ra rằng các hướng dẫn điều trị từ NCCN, ESMO và Bộ Y tế cho thấy việc kiểm soát ung thư vú di căn HER2+ cần kết hợp linh hoạt nhiều phác đồ can thiệp.

Các liệu pháp kháng HER2 được ứng dụng tuần tự bao gồm kết hợp trastuzumab, pertuzumab; các dòng kháng thể liên hợp thuốc như T-DXd, T-DM1, cùng các nhóm thuốc ức chế tyrosine kinase, điển hình là tucatinib và capecitabine.

Quá trình lập kế hoạch điều trị được cá thể hóa dựa trên việc phân tích các đặc điểm lâm sàng của người bệnh, ghi nhận tiền sử tiếp nhận điều trị trước đó, đánh giá vị trí cùng mức độ tổn thương di căn, từ đó xác định mục tiêu can thiệp phù hợp cho từng giai đoạn.

Đối với các trường hợp có tổn thương di căn hệ thần kinh trung ương, chiến lược xử trí hướng tới việc ứng dụng mô hình phối hợp đa chuyên khoa. Quy trình này kết hợp giữa các phương pháp điều trị toàn thân kháng HER2, các can thiệp tại chỗ như phẫu thuật hoặc xạ trị, đi kèm công tác chăm sóc hỗ trợ thích hợp.

Theo báo cáo, mục tiêu của việc cá thể hóa và điều chỉnh phác đồ nhằm duy trì kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống và bảo đảm các yếu tố an toàn để người bệnh có thể tiếp tục duy trì điều trị lâu dài.

tsbs lê tấn đạt thảo luận

TS.BS Lê Tấn Đạt thảo luận về tình trạng bệnh khi ung thư vú HER2+ di căn não.

Ở phiên báo cáo “Ung thư vú HER2+ di căn não”, TS.BS Lê Tấn Đạt, Phó Giám đốc Trung tâm Ung Bướu, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết, tình trạng di căn não có thể khởi phát từ giai đoạn đầu, phát sinh thứ phát hoặc tồn tại trong suốt quá trình tiến triển của bệnh.

Đối với các tổn thương nội sọ, khi áp dụng phương pháp can thiệp tại chỗ như phẫu thuật hoặc xạ phẫu định vị (SRS) hoặc xạ trị toàn não (WBRT) cần căn cứ vào triệu chứng lâm sàng thực tế, số lượng tổn thương và tiền sử điều trị trước đó của người bệnh.

Phẫu thuật có thể được cân nhắc ở một số trường hợp, chẳng hạn tổn thương đơn độc, kích thước lớn, gây triệu chứng hoặc cần xác định mô bệnh học. Xạ phẫu định vị được ưu tiên nhằm kiểm soát cục bộ và bảo tồn chức năng thần kinh. Trong khi xạ trị toàn não kết hợp bảo vệ hồi hải mã và thuốc memantine áp dụng cho các trường hợp tổn thương lan tỏa.

Về điều trị toàn thân, các nhóm thuốc được sử dụng gồm thuốc ức chế tyrosine kinase, như tucatinib, lapatinib, neratinib có khả năng vượt qua hàng rào máu não, cùng các dòng kháng thể liên hợp thuốc thế hệ mới như trastuzumab deruxtecan. Lựa chọn phác đồ toàn thân cần phân định rõ tình huống bệnh ngoại sọ đang ổn định hay đang tiến triển để điều chỉnh.

Kết hợp điều trị toàn thân và can thiệp tại chỗ giúp kiểm soát tiến triển trong thời gian dài hơn, duy trì chất lượng cuộc sống và chức năng nhận thức, đưa tình trạng di căn não chuyển từ tiên lượng nặng sang trạng thái bệnh mạn tính.

tsbsckii phạm xuân dũng trao đổi

TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng trao đổi tại chương trình.

Phát biểu tổng kết chương trình, TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng đánh giá các báo cáo đã làm rõ chiến lược quản lý ung thư vú HER2+ từ giai đoạn sớm đến giai đoạn di căn.

Từ hóa trị tân hỗ trợ và điều trị thích ứng với đáp ứng ở giai đoạn sớm đến các liệu pháp kháng HER2 thế hệ mới, thuốc ức chế tyrosine kinase và can thiệp tại chỗ ở giai đoạn di căn, lựa chọn điều trị cần dựa trên đánh giá toàn diện và phối hợp đa chuyên khoa. Đặc biệt, với người bệnh di căn não, kiểm soát tổn thương cần song hành cùng cân nhắc bảo tồn chức năng thần kinh và chất lượng sống.

Thông qua chương trình, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh tiếp tục thúc đẩy trao đổi chuyên môn, cập nhật các tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý tuyến vú, góp phần kéo dài thời gian sống, bảo tồn chức năng nhận thức và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

VIỆN NGHIÊN CỨU TÂM ANH