Kiểm soát đồng thời huyết áp, đường huyết, mỡ máu và chức năng thận giúp giảm nguy cơ biến cố ở bệnh nhân mắc hội chứng Tim mạch – Thận – Chuyển hóa, đồng thời nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh – Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Tim mạch, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM và các chuyên gia cho biết thông tin trên trong Hội thảo khoa học “Chuyển dịch từ trị số sang bảo vệ toàn diện – Chiến lược viên phối hợp liều cố định (FDC) trong kỷ nguyên hội chứng Tim mạch – Thận – Chuyển hóa”, diễn ra ngày 11/9/2026 tại Viện Nghiên cứu Tâm Anh thuộc Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, trực tuyến trên nền tảng Zoom.

Theo Phó giáo sư Vinh, thực tế một người tăng huyết áp có thể đồng thời mắc đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, béo phì hoặc bệnh thận mạn. Nếu chỉ tập trung đưa một chỉ số về mức mục tiêu mà bỏ qua những yếu tố còn lại, nguy cơ tổn thương tim, mạch máu và thận vẫn có thể tiếp diễn.

Đây là cơ sở của xu hướng chuyển từ “điều trị từng con số” sang bảo vệ toàn diện người bệnh, với mục tiêu không chỉ kiểm soát huyết áp, đường huyết hay mỡ máu mà còn giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim, tổn thương thận và những biến cố lâu dài.

BS Phạm Nguyễn Vinh

PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh (giữa) cùng các bác sĩ và đại diện nhà tài trợ tại buổi hội thảo khoa học ngày 11/9

Hội chứng Tim mạch – Thận – Chuyển hóa (CKM) là một rối loạn phức tạp bao gồm bệnh tim mạch, bệnh thận, béo phì và đái tháo đường type 2. Sự tương tác qua lại của bốn bệnh lý này làm tăng nguy cơ tổn thương cơ quan đích và tử vong sớm.

PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh cho biết, một người có thể mắc đồng thời nhiều bệnh lý trong hội chứng CKM. Nguyên do là chúng có mối liên hệ thông qua hệ tuần hoàn. Sau khi thức ăn được tiêu hóa, chất dinh dưỡng và năng lượng sẽ được vận chuyển qua máu đến các tế bào trong cơ thể. Tim và mạch máu đảm nhận vai trò tuần hoàn máu đi khắp cơ thể, trong khi thận lọc chất thải từ máu. Để duy trì sức khỏe tốt, tất cả các hệ thống này cần hoạt động hiệu quả.

Việc mắc nhiều hơn một bệnh lý trong hội chứng CKM làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác trong hội chứng này. Vì vậy, chuyển dịch từ điều trị đơn lẻ sang nhận diện sớm và quản lý CKM theo hướng thống nhất là chiến lược quan trọng nhằm bảo vệ tối đa cho bệnh nhân.

BS Tạ Phương Dung

TTƯT.BS.CKII Tạ Phương Dung, Phó Giám đốc Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, Trưởng khoa Nội thận – Lọc máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, trao đổi cùng các chuyên gia tại hội thảo.

Kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn

Với bài báo cáo “Từ ổn định huyết áp đến bảo vệ toàn diện cơ quan đích: Vai trò của phối hợp Valsartan + Amlodipine trong kiểm soát đa yếu tố nguy cơ”, ThS.BS Phạm Đỗ Anh Thư, Trưởng đơn vị Bệnh Van tim, Trung tâm Tim mạch, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM nhấn mạnh, tăng huyết áp không đơn thuần chỉ là bệnh lý đơn lẻ của tim mạch khi nhìn trong bối cảnh hội chứng CKM. Đái tháo đường là động cơ thúc đẩy hoặc làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp. Ngược lại, tăng huyết áp gây tổn thương thận, từ đó làm bệnh thận mạn tiến triển nặng hơn. Vì vậy, mục tiêu điều trị không dừng ở việc đưa huyết áp về ngưỡng phù hợp mà còn cần bảo vệ tim, thận và hệ mạch trong thời gian dài.

BS Phạm Đỗ Anh Thư

ThS.BS Phạm Đỗ Anh Thư khuyến cáo sử dụng thuốc phối hợp trong điều trị huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn.

Mục tiêu điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân mắc đái tháo đường kèm bệnh thận mạn nên về mức 120/80 mmHg nếu dung nạp tốt. Ở người trưởng thành tăng huyết áp độ 2 (huyết áp tâm thu > 140 mmHg và huyết áp tâm trương > 90 mmHg), khuyến cáo sử dụng 2 thuốc hạ huyết áp hàng đầu thuộc 2 nhóm khác nhau, lý tưởng là dưới dạng viên phối hợp liều cố định nhằm kiểm soát huyết áp và tăng tuân thủ điều trị. Điều này còn đem lại lợi ích vượt trội trên bệnh nhân tăng huyết áp có đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn khi giúp cải thiện đạm niệu, bài tiết protein niệu, đồng thời giảm nguy cơ biến cố tim mạch trong tương lai.

Đưa LDL-C về mức an toàn, giảm biến cố tim mạch

Trong bài báo cáo “Điều trị rối loạn lipid máu 2026: Phòng ngừa bệnh tim mạch do xơ vữa”, ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trưởng khoa Nội Tim mạch 1, Trung tâm Tim mạch, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, chia sẻ trường hợp bệnh nhân nữ 50 tuổi, đi khám vì triệu chứng đau ngực trái không điển hình. Kết quả xét nghiệm và chụp mạch vành xác định chị bị rối loạn mỡ máu, xơ vữa động mạch vành, tiền đái tháo đường.

Trường hợp này cho thấy nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch có thể cùng tồn tại mà người bệnh không nhận biết. Rối loạn mỡ máu thường không gây triệu chứng rõ ràng nhưng theo thời gian có thể thúc đẩy hình thành mảng xơ vữa, làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

BS Huỳnh Thanh Kiều

ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều cho biết, bệnh nhân có nguy cơ cao biến cố tim mạch cần kiểm soát LDL-C sớm và lâu dài.

Bệnh nhân được khởi trị bằng statin cường độ trung bình, mục tiêu đưa LDL-C (cholesterol xấu) về mức < 2.6 mmol/L (trước điều trị là 2.9 mmol/L). Thay vì dùng statin cường độ cao, sử dụng viên phối hợp có hiệu quả trong việc duy trì và tuân thủ điều trị cao hơn, nhờ cơ chế giảm LDL-C lớn hơn.

“Điều trị càng sớm và duy trì càng lâu, LDL-C càng thấp, nguy cơ biến cố tim mạch càng giảm”, bác sĩ Kiều cho biết.

Theo bác sĩ Kiều, mức mỡ máu mục tiêu cần đạt không giống nhau ở tất cả mọi người mà phụ thuộc vào nguy cơ tim mạch. Người đã có xơ vữa động mạch, đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc nhiều yếu tố nguy cơ thường cần được theo dõi chặt chẽ hơn. Bên cạnh điều trị theo chỉ định, duy trì chế độ ăn hợp lý, vận động, kiểm soát cân nặng và bỏ thuốc lá góp phần giảm nguy cơ biến cố.

Điểm quan trọng, theo các chuyên gia, cần quản lý động bộ huyết áp, đường huyết, mỡ máu và chức năng thận, không nên tách rời.

“Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát đường huyết, huyết áp, mỡ máu, bệnh thận mạn là ‘lá chắn’ giúp bảo tồn cơ quan đích, giảm tỷ lệ nhập viện và cải thiện tiên lượng sống còn lâu dài cho bệnh nhân mắc hội chứng tim mạch – thận – chuyển hóa”, Phó giáo sư Phạm Nguyễn Vinh nhấn mạnh.

Tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, người mắc đồng thời nhiều bệnh lý được đánh giá và quản lý với sự phối hợp giữa các chuyên khoa Tim mạch, Nội tiết – Đái tháo đường, Thận học, Dinh dưỡng cùng các chuyên khoa liên quan. Các yếu tố nguy cơ, mức độ tổn thương cơ quan và bệnh đi kèm được đánh giá đồng thời để xây dựng kế hoạch điều trị, theo dõi phù hợp cho từng người.

VIỆN NGHIÊN CỨU TÂM ANH