Tiêm chủng không chỉ dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Khi bước vào tuổi vị thành niên, trưởng thành rồi cao tuổi, nguy cơ mắc bệnh và khả năng đáp ứng miễn dịch cũng thay đổi theo từng giai đoạn, đòi hỏi lựa chọn vắc xin và thời điểm tiêm phù hợp với độ tuổi, tình trạng sức khỏe và nguy cơ của mỗi người. Đặc biệt, ở người có bệnh nền hoặc đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch để điều trị bệnh lý, một số bệnh truyền nhiễm có thể dễ dàng tấn công, gây bệnh, khiến bệnh diễn tiến nặng hơn và làm tình trạng bệnh nền sẵn có thêm phức tạp.
Đây là một trong những nội dung được các chuyên gia trong nước và quốc tế tập trung phân tích tại Hội thảo khoa học “Hành trình tiêm chủng trọn đời – Từ bằng chứng toàn cầu đến thực hành tại Việt Nam”, do Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh phối hợp cùng Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC tổ chức với sự đồng hành của Công ty TNHH Dược phẩm GSK Việt Nam, diễn ra vào ngày 28/09/2026. Hội thảo có sự tham gia của Giáo sư Danh dự Jonathan Van-Tam, nguyên Phó Chủ nhiệm Y tế Vương quốc Anh, cùng các chuyên gia từ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Hội Y học Dự phòng Việt Nam.

Từ thành công của tiêm chủng trẻ em đến khoảng trống bảo vệ suốt đời
Trong nhiều năm, tiêm chủng trẻ em là một trong những trọng tâm của y tế dự phòng. Đây cũng là nền tảng giúp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phòng chống các bệnh truyền nhiễm. Từ năm 1985, Chương trình Tiêm chủng mở rộng được triển khai, cung cấp miễn phí vắc xin phòng 11 bệnh truyền nhiễm. Nhờ duy trì độ bao phủ tiêm chủng cao, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ duy trì trên 90% trong khoảng 30 năm. Việt Nam cũng lần lượt thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005.
TTƯT.PGS.TS.BS. Trần Quang Bính – Giám đốc chuyên môn, Bệnh viện Đa Khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết, những thành quả này cho thấy một nguyên tắc quan trọng của y học dự phòng: vắc xin phát huy giá trị cao nhất khi được sử dụng ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG, ĐÚNG THỜI ĐIỂM VÀ DUY TRÌ SỰ BẢO VỆ PHÙ HỢP VỚI TỪNG GIAI ĐOẠN NGUY CƠ CỦA CUỘC ĐỜI.
Tuy nhiên, khi trẻ bước qua giai đoạn tiêm chủng những năm đầu đời, việc tiếp tục rà soát và cập nhật vắc xin thường không còn được duy trì với mức độ thường xuyên như trước. Trẻ đi học, thay đổi môi trường sinh hoạt, bắt đầu có nhiều hoạt động xã hội hơn, trong khi nguy cơ mắc một số bệnh truyền nhiễm cũng thay đổi theo tuổi. Nếu những mũi tiêm còn thiếu hoặc cần tiêm nhắc không được rà soát, khoảng trống bảo vệ có thể kéo dài sang tuổi vị thành niên.
Một ví dụ cho khoảng trống miễn dịch được TTƯT.PGS.TS.BS. Trần Quang Bính đưa ra tại hội thảo là viêm gan B. Theo Phó Giáo sư, việc tiêm vắc xin viêm gan B, đặc biệt ngay từ những ngày đầu đời, đã giúp nhiều thế hệ trẻ được bảo vệ tốt hơn trước virus này. Tuy nhiên, thành quả này chưa đồng nghĩa với việc mọi thế hệ đều có cơ hội được bảo vệ như nhau. Theo thống kê, Việt Nam vẫn có khoảng 6,5 triệu người nhiễm viêm gan B, thuộc nhóm 10 quốc gia có số người nhiễm viêm gan B và C cao nhất thế giới.
Có thể thấy, những thế hệ sinh sau có cơ hội được bảo vệ từ rất sớm, trong khi nhiều thế hệ đi trước vẫn có thể còn khoảng trống bảo vệ. Chính vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục bảo vệ trẻ em bằng tiêm chủng, cần quan tâm đến những người đã trưởng thành và chưa từng có cơ hội được bảo vệ từ vắc xin khi còn nhỏ, đồng thời tăng cường xét nghiệm, phát hiện và tiếp cận điều trị.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện đưa ra các khuyến nghị tiêm chủng thường quy cho trẻ em, thanh thiếu niên và người trưởng thành, đồng thời nhấn mạnh việc tiêm bù cho những trường hợp bỏ lỡ vắc xin trong lịch trước đó. Cách tiếp cận này nhằm tránh tình trạng một người đã được tiêm chủng đầy đủ khi còn nhỏ nhưng sau đó không còn được kiểm tra lại tình trạng bảo vệ khi bước sang các giai đoạn nguy cơ mới.

TTƯT.PGS.TS.BS. Trần Quang Bính khuyến nghị các nhân viên y tế thúc đẩy cách tiếp cận tiêm chủng theo vòng đời, trong đó vắc xin được xem xét ở từng giai đoạn từ trẻ em, thanh thiếu niên đến người trưởng thành và người cao tuổi, phù hợp với nguy cơ bệnh và tình trạng sức khỏe của mỗi người.
Thanh thiếu niên cần được rà soát lại lịch tiêm chủng
Tuổi vị thành niên là một trong những thời điểm quan trọng để kiểm tra lại lịch sử tiêm chủng. Đây là giai đoạn trẻ bắt đầu mở rộng môi trường học tập, vui chơi, giao tiếp và tiếp xúc với nhiều người hơn. Một số vắc xin cũng được khuyến nghị hoặc cần tiêm nhắc ở độ tuổi này tùy theo từng quốc gia, tình trạng tiêm chủng trước đó và yếu tố nguy cơ.
Bệnh do não mô cầu là một ví dụ. TS.BS Nguyễn An Nghĩa – Phó phòng Đào tạo sau Đại học, Đại học Y Dược TP.HCM, Phó Trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng I TP.HCM cho biết, viêm màng não do não mô cầu, đặc biệt do nhóm B, là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có thể diễn tiến rất nhanh, gây viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và nhiều bệnh lý não mô cầu xâm lấn khác. Bệnh có thể đe dọa tính mạng chỉ trong thời gian ngắn, đồng thời để lại những di chứng nặng nề như mất thính lực, tổn thương thần kinh, cắt cụt chi hoặc rối loạn tâm lý ở người sống sót.
Điều đáng lưu ý là não mô cầu có thể hiện diện ở vùng mũi họng của người khỏe mạnh nhưng trong những điều kiện thuận lợi, vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu và các cơ quan, gây bệnh xâm lấn. Vi khuẩn lây truyền chủ yếu qua dịch tiết đường hô hấp và tiếp xúc gần. Vì vậy, những môi trường tập trung đông người, sinh hoạt và giao tiếp gần như trường học, ký túc xá hoặc các hoạt động tập thể có thể tạo điều kiện cho vi khuẩn lây lan.
Bệnh càng đáng lo vì những biểu hiện ban đầu thường không đặc hiệu, có thể giống cảm lạnh thông thường với sốt, đau đầu, đau họng, buồn nôn hoặc mệt mỏi. Trong khi đó, bệnh có thể chuyển nặng rất nhanh, khiến việc nhận biết và điều trị sớm trở nên đặc biệt quan trọng. Theo các dữ liệu được trình bày tại hội thảo, ngay cả khi được điều trị, bệnh não mô cầu xâm lấn vẫn có thể gây tử vong và để lại di chứng lâu dài ở một tỷ lệ đáng kể người bệnh.
Gánh nặng vì thế không dừng ở một đợt mắc bệnh. Người sống sót sau bệnh não mô cầu xâm lấn có thể phải đối mặt với các di chứng ảnh hưởng lâu dài đến khả năng học tập, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống; gia đình đồng thời phải chịu thêm chi phí điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc trong thời gian dài.
Chính vì bệnh có thể diễn tiến nhanh, khó nhận biết sớm và để lại hậu quả nặng nề, phòng bệnh chủ động bằng vắc xin trở thành một trong những biện pháp quan trọng để giảm nguy cơ mắc bệnh. Với não mô cầu nhóm B, vắc xin thế hệ mới được phát triển bằng công nghệ phiên mã ngược (reverse vaccinology), sử dụng 4 thành phần kháng nguyên của não mô cầu nhóm B (4CMenB), nhằm tạo đáp ứng miễn dịch chống lại nhiều chủng vi khuẩn thuộc nhóm này.
TS.BS Nguyễn An Nghĩa khuyến cáo, tuổi vị thành niên không chỉ là giai đoạn cần theo dõi sự phát triển thể chất mà còn là thời điểm quan trọng để kiểm tra và hoàn thiện lịch tiêm chủng. Với những bệnh có nguy cơ diễn tiến nhanh như não mô cầu, chủ động tiêm vắc xin phù hợp theo tuổi và nguy cơ giúp duy trì khoảng bảo vệ khi trẻ bước vào giai đoạn học tập, giao tiếp và sinh hoạt xã hội rộng hơn.

Tuổi vị thành niên cần rà soát lịch tiêm, trong đó vắc xin não mô cầu giúp chủ động phòng bệnh xâm lấn có thể diễn tiến rất nhanh.
Người cao tuổi, có bệnh nền đối diện với nguy cơ mắc bệnh nặng rất cao
Nếu thanh thiếu niên là nhóm dễ bị bỏ quên trong quá trình chuyển tiếp từ tiêm chủng trẻ em sang người lớn, thì một khoảng trống khác lại xuất hiện ở những người trưởng thành đang sống chung với bệnh mạn tính. Tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen, bệnh thận mạn hay tình trạng suy giảm miễn dịch không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Khi mắc thêm một số bệnh truyền nhiễm, người bệnh có thể phải đối mặt với nguy cơ biến chứng, nhập viện hoặc làm nặng thêm bệnh nền.
Ở người lớn tuổi, vấn đề còn phức tạp hơn do hệ miễn dịch thay đổi theo tuổi, còn gọi là lão hóa miễn dịch. PGS.TS.BS. Phạm Quang Thái – Phó trưởng khoa kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, chức năng miễn dịch thay đổi theo tuổi, tuổi càng cao, hệ miễn dịch càng suy giảm khả năng đáp ứng hiệu quả với các tác nhân gây bệnh cũng như với kích thích miễn dịch, khiến cơ thể dễ gặp biến chứng hơn khi mắc một số bệnh nhiễm trùng.
RSV là một ví dụ rõ ràng. Theo CDC, người từ 75 tuổi trở lên và người từ 50 – 74 tuổi có các yếu tố nguy cơ nhất định, trong đó có bệnh tim hoặc phổi mạn tính, thuộc nhóm có nguy cơ mắc RSV nặng cao hơn. RSV ở người lớn tuổi không chỉ gây bệnh hô hấp mà còn có thể làm trầm trọng thêm các bệnh lý nền đang có.

Khi hệ miễn dịch lão hóa, người cao tuổi dễ gặp biến chứng hơn nếu mắc bệnh truyền nhiễm. Bệnh nền có thể khiến gánh nặng càng lớn.
Zona thần kinh: Tuổi càng cao, nguy cơ zona và đau thần kinh kéo dài càng đáng lưu ý
Zona thần kinh có một đặc điểm khác với nhiều bệnh truyền nhiễm thường gặp. Virus gây bệnh có thể “nằm lại” trong cơ thể sau lần nhiễm thủy đậu trước đó. Nhiều năm sau, khi tuổi cao hoặc hệ miễn dịch suy giảm, virus có thể tái hoạt động và gây zona.
Bệnh thường biểu hiện bằng đau, rát, nổi mụn nước thành dải theo vùng da. Tuy nhiên, điều khiến các chuyên gia đặc biệt quan tâm không chỉ là tổn thương ngoài da mà còn là những biến chứng có thể kéo dài sau khi tổn thương đã lành. Trong đó, đau thần kinh sau zona có thể kéo dài nhiều tháng hoặc lâu hơn, gây ảnh hưởng đáng kể đến giấc ngủ, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống.
Nguy cơ này đặc biệt đáng lưu ý ở người lớn tuổi và người suy giảm miễn dịch. CDC khuyến nghị vắc xin zona thần kinh tái tổ hợp cho người từ 50 tuổi trở lên và người từ 19 tuổi trở lên bị suy giảm miễn dịch hoặc suy giảm miễn dịch do bệnh hoặc điều trị, phác đồ 2 mũi với khoảng cách phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ dựa trên kết quả khám sàng lọc theo quy định.
Phó Giáo sư Phạm Quang Thái cho biết, vắc xin phòng zona tái tổ hợp, bất hoạt, có bổ trợ, được thiết kế nhằm tăng cường đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với virus Varicella Zoster. Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa ở người lớn tuổi và những nhóm có nguy cơ cao, khi khả năng đáp ứng miễn dịch tự nhiên đã suy giảm theo tuổi.
Dữ liệu lâm sàng cho thấy vắc xin zona thần kinh tái tổ hợp tạo hiệu lực bảo vệ cao ở người lớn tuổi. Trong nghiên cứu trên người từ 50 tuổi trở lên, vắc xin đạt 97,2% hiệu lực phòng zona. Hiệu lực cũng được ghi nhận ở những người có bệnh nền, với mức từ 84,5 – 97% tùy từng bệnh lý. Đáng chú ý, vắc xin không chỉ giúp phòng zona mà còn góp phần giảm nguy cơ các biến chứng sau zona; ở người từ 70 tuổi trở lên, hiệu lực phòng đau thần kinh sau zona đạt 88,8%. Ở những người từ 18 tuổi trở lên có tình trạng suy giảm miễn dịch do bệnh lý, hiệu lực phòng zona được ghi nhận trong khoảng 70 – 87%.
Không chỉ tạo hiệu lực trong những năm đầu sau tiêm, dữ liệu theo dõi dài hạn còn cho thấy khả năng bảo vệ được duy trì trong thời gian nhiều năm. Theo dữ liệu theo dõi đến 11 năm, hiệu lực phòng zona vẫn đạt khoảng 82%, trong khi ở người từ 70 tuổi trở lên, hiệu lực duy trì ở mức 70% trở lên.
Như vậy, với người lớn tuổi hoặc có tình trạng suy giảm miễn dịch, phòng zona không chỉ nhằm tránh một đợt phát ban đau rát. Mục tiêu quan trọng hơn là giảm nguy cơ mắc bệnh và những biến chứng kéo dài có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Virus thủy đậu có thể nằm lại trong cơ thể nhiều năm và tái hoạt thành zona khi tuổi cao hoặc miễn dịch suy giảm. Vắc xin giúp giảm nguy cơ mắc bệnh và đau thần kinh sau zona.
Virus hợp bào hô hấp (RSV): Người cao tuổi có bệnh nền dễ diễn tiến nặng khi mắc RSV
Nếu zona đặt ra vấn đề về tái hoạt virus và biến chứng thần kinh, RSV lại cho thấy nguy cơ một bệnh nhiễm trùng hô hấp có thể trở nên nặng hơn khi xảy ra trên nền cơ thể đã có bệnh mạn tính.
Theo Phó Giáo sư Phạm Quang Thái, ở người trẻ khỏe mạnh, RSV có thể chỉ gây các triệu chứng hô hấp thông thường. Nhưng ở người lớn tuổi hoặc người có bệnh tim, phổi mạn tính, suy giảm miễn dịch và một số bệnh nền khác, nguy cơ bệnh nặng và nhập viện cao hơn. Trên toàn cầu, ước tính mỗi năm có hơn 470.000 ca nhập viện và khoảng 33.000 ca tử vong nội viện liên quan đến RSV ở người từ 60 tuổi trở lên tại các quốc gia có thu nhập cao.
Đáng lưu ý, nguy cơ bệnh nặng tăng rõ rệt theo tuổi và khi đi kèm các bệnh như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen, suy tim, bệnh mạch vành, đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc suy giảm miễn dịch. Theo thống kê, khoảng 96% người từ 60 tuổi trở lên nhập viện vì RSV tại Mỹ có ít nhất một bệnh nền, cho thấy RSV không chỉ gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới mà còn có thể làm nặng bệnh mạn tính và thúc đẩy các biến cố như đợt cấp COPD, suy tim.
Nghiên cứu tiến cứu toàn cầu trên người trưởng thành nhập viện do RSV cho thấy trong 238 trường hợp dương tính với RSV được phân tích, có 145 người từ 65 tuổi trở lên; đồng thời ghi nhận 99 người mắc bệnh tim mạn tính, 73 người mắc COPD, 51 người mắc hen suyễn và 39 người mắc bệnh thận mạn. Những con số này cho thấy khi RSV xảy ra trên nền sức khỏe vốn đã có nhiều yếu tố nguy cơ, gánh nặng bệnh tật có thể trở nên đáng kể hơn.
Vì vậy, bên cạnh điều trị và kiểm soát tốt bệnh nền, chủ động phòng ngừa RSV bằng tiêm chủng là một biện pháp quan trọng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp dưới và các biến chứng liên quan. Đáp ứng nhu cầu này, vắc xin RSVPreF3 OA được phát triển dành cho người cao tuổi, với thiết kế hướng đến đặc điểm lão hóa miễn dịch ở nhóm tuổi này. Vắc xin sử dụng kháng nguyên được thiết kế để kích thích cơ thể tạo kháng thể trung hòa, đồng thời kết hợp thành phần bổ trợ nhằm tăng cường đáp ứng miễn dịch tế bào.
Trong nghiên cứu AReSVi-006, hiệu lực của một liều vắc xin RSVPreF3 OA được đánh giá ở người từ 60 tuổi trở lên trong mùa RSV đầu tiên, với thời gian theo dõi trung vị 6,7 tháng. Kết quả cho thấy vắc xin đạt hiệu lực 82,6% trong phòng bệnh đường hô hấp dưới do RSV, 94,1% đối với bệnh đường hô hấp dưới do RSV mức độ nặng và 71,7% đối với nhiễm trùng hô hấp cấp tính do RSV. Hiệu lực cũng được ghi nhận ở các nhóm có bệnh nền đồng mắc, với mức 94,6% đối với bệnh đường hô hấp dưới do RSV ở người có ít nhất một bệnh nền. Vắc xin đồng thời cho thấy khả năng bảo vệ trước cả hai phân nhóm RSV đang lưu hành, với hiệu lực 84,6% đối với RSV-A và 80,9% đối với RSV-B.
Không chỉ cho thấy hiệu lực trong mùa RSV đầu tiên, các dữ liệu theo dõi tiếp theo còn ghi nhận khả năng bảo vệ của vắc xin RSVPreF3 OA được duy trì qua ba mùa RSV liên tiếp. Với thời gian theo dõi trung vị 30,6 tháng, hiệu lực tích lũy từ mùa 1 đến mùa 3 đạt 62,9% đối với bệnh đường hô hấp dưới do RSV, 67,4% đối với bệnh đường hô hấp dưới do RSV mức độ nặng và 51,1% đối với nhiễm trùng hô hấp cấp tính do RSV. Hiệu lực bảo vệ trước bệnh đường hô hấp dưới do RSV cũng được ghi nhận ở cả RSV-A và RSV-B, lần lượt là 69,8% và 58,6%. Ở người có ít nhất một bệnh nền đồng mắc, hiệu lực bảo vệ chống bệnh đường hô hấp dưới do RSV qua ba mùa đạt 64,7%.
Những kết quả này cho thấy một liều vắc xin có thể tạo ra mức bảo vệ đáng kể trước bệnh đường hô hấp dưới do RSV ở người cao tuổi ngay trong mùa RSV đầu tiên và tiếp tục duy trì hiệu lực qua các mùa tiếp theo. Đặc biệt, khả năng bảo vệ trước bệnh đường hô hấp dưới mức độ nặng và ở nhóm có bệnh nền có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh người cao tuổi thường đồng thời đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ.

RSV không chỉ gây nhiễm trùng hô hấp ở người cao tuổi mà còn có thể làm nặng COPD, suy tim và bệnh nền. Vắc xin giúp giảm nguy cơ bệnh đường hô hấp dưới do RSV.
Tổng kết hội thảo, PGS.TS.BS Trần Quang Bính nhấn mạnh, từ trẻ nhỏ đến thanh thiếu niên, từ người trưởng thành đến người cao tuổi, nhu cầu phòng bệnh bằng tiêm chủng vắc xin không giống nhau. Có vắc xin cần tiêm từ sớm, có vắc xin cần tiêm nhắc lại, có vắc xin được ưu tiên ở một số nhóm tuổi hoặc người có bệnh nền và cũng có những trường hợp cần tiêm bù khi đã bỏ lỡ lịch trước đó. Các gia đình có thể đến ngay các cơ sở tiêm chủng gần nhất để được khám sàng lọc, tư vấn và chỉ định lộ trình tiêm phù hợp với từng giai đoạn, tình trạng sức khỏe, tiền sử tiêm chủng và nguy cơ dịch tễ tại địa phương.
VIỆN NGHIÊN CỨU TÂM ANH
- Hà Nội:
- 108 Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP.Hà Nội
- Hotline: 024 3872 3872 – 024 7106 6858
- TP.HCM:
- 2B Phổ Quang, Phường Tân Sơn Hòa, TP.Hồ Chí Minh
- Hotline: 093 180 6858 – 0287 102 6789
- Fanpage: https://www.facebook.com/ViennghiencuuTamAnh.TAMRI
- Website: tamri.vn



