Ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC) là một trong những thể ung thư vú có tiên lượng xấu nhất, chiếm khoảng 10% đến 15% tổng số ca mắc. Các dữ liệu lâm sàng mới cho thấy thuốc liên hợp kháng thể – thuốc (ADC) hướng TROP2 đang mở rộng thêm lựa chọn điều trị cho người bệnh ung thư vú bộ ba âm tính tiến xa, di căn (mTNBC), đặc biệt ở nhóm không phù hợp với liệu pháp miễn dịch.

Cơ hội mới trong điều trị ung thư vú tiến xa/di căn bộ ba âm tính

Thông tin trên được các chuyên gia báo cáo và thảo luận tại buổi Sinh hoạt khoa học “Cập nhật dữ liệu & khuyến cáo quốc tế nửa đầu năm 2026 trong điều trị ung thư vú tiến xa/di căn bộ ba âm tính: Vai trò then chốt của liệu pháp ADC hướng TROP2”, diễn ra ngày 08/08/2026 tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. HCM.

Ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC) là phân nhóm ung thư vú ác tính cao, thường gặp ở phụ nữ trẻ, đặc biệt phụ nữ tiền mãn kinh dưới 40 tuổi. Khi bệnh tái phát hoặc tiến triển thành giai đoạn tiến xa, di căn, việc lựa chọn điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng PD-L1, đột biến gen BRCA1-2, tình trạng HER2 và các dấu ấn sinh học khác. Đây là cơ sở quan trọng để bác sĩ xây dựng chiến lược điều trị phù hợp cho từng người bệnh.

Phát biểu tại chương trình,TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng, Giám đốc Trung tâm Ung Bướu, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM nhấn mạnh sự ra đời của liệu pháp liên hợp kháng thể – thuốc (ADC), đặc biệt là các ADC nhắm trúng đích TROP2, đang mở ra thêm những lựa chọn điều trị tiềm năng cho người bệnh ung thư vú bộ ba âm tính tiến xa, di căn (mTNBC).

 TS.BS Lê Tấn Đạt trình bày về hiện trạng và những khoảng trống trong điều trị mTNBC không phù hợp với liệu pháp miễn dịch.

TS.BS Lê Tấn Đạt trình bày về hiện trạng và những khoảng trống trong điều trị mTNBC không phù hợp với liệu pháp miễn dịch.

Mở đầu phiên báo cáo, TS.BS Lê Tấn Đạt, Phó Giám đốc Trung tâm Ung Bướu, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, trình bày về “Thực hành hiện nay và những khoảng trống trong điều trị mTNBC không phù hợp với liệu pháp miễn dịch”.

Theo báo cáo, có đến 46% bệnh nhân TNBC (ung thư vú bộ ba âm tính, còn gọi là ung thư vú tam âm) có thể phát triển di căn não. Lúc này, thời gian sống còn chỉ khoảng 6 tháng sau chẩn đoán. Bên cạnh đó, khoảng 78% bệnh nhân tiến triển thành ung thư vú bộ ba âm tính di căn (mTNBC), phần lớn xảy ra trong vòng 5 năm sau chẩn đoán ở giai đoạn sớm.

Bác sĩ Tấn Đạt cho biết, có khoảng 70% người mắc mTNBC không phù hợp với liệu pháp miễn dịch (IO), qua đó hóa trị vẫn là nên tảng điều trị bước 1 nhưng hiệu quả còn khiêm tốn và độc tính đáng kể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống. Dữ liệu thực tế cũng ghi nhận 50% người bệnh mTNBC không thể tiếp tục nhận điều trị ở bước 2 sau khi tiến triển ở bước 1.

Tuy nhiên, đối với nhóm đột biến gen BRCA1- 2, các thuốc ức chế PARP như Olaparib hoặc Talazoparib cho thấy giúp cải thiện thời gian sống không tiến triển (mPFS) từ 2,9 tháng lên 5,8 tháng so với điều trị đối chứng. Đáng chú ý, lợi ích sống còn của Olaparib ghi nhận đạt cao nhất khi được sử dụng ngay ở bước 1.

Trong khi đó, với nhóm PD-L1 dương tính, việc kết hợp Pembrolizumab với hóa trị ở bước 1 giúp kéo dài mPFS lên đến khoảng 9,7 tháng so với 5,6 tháng khi chỉ hóa trị, thời gian sống thêm toàn bộ trung vị (mOS) khoảng 23 tháng.

 TS.BS Phan Thị Hồng Đức báo cáo những dữ liệu khuyến cáo mới nhất về vai trò ADC hướng TROP2

TS.BS Phan Thị Hồng Đức báo cáo những dữ liệu khuyến cáo mới nhất về vai trò ADC hướng TROP2

Báo cáo “Tiếp cận điều trị mTNBC: Cập nhật dữ liệu & khuyến cáo mới nhất về vai trò của ADC hướng TROP2” của TS.BS Phan Thị Hồng Đức, Trưởng khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM tập trung trình bày các bằng chứng lâm sàng đột phá và các khuyến cáo quốc tế gần đây do NCCN và ESMO công bố.

Theo báo cáo, ở bệnh nhân mTNBC có PD-L1 và không có đột biến BRCA1- 2, thuốc ADC hướng TROP2 gồm Sacituzumab govitecan và Datopotamab deruxtecan (Dato-DXd) được xếp vào nhóm lựa chọn ưu tiên trong điều trị bước 1, bên cạnh hóa trị.

Đáng chú ý là nghiên cứu pha III TROPION-Breast02 đánh giá hiệu quả của thuốc Dato-DXd ở nhóm người mắc mTNBC chưa qua hóa trị, không phù hợp dùng liệu pháp miễn dịch. Nghiên cứu tuyển chọn nhóm bệnh nhân sát thực tế lâm sàng, bao gồm cả 15% nhóm bệnh nặng bị tái phát rất sớm (dưới 6 tháng).

Kết quả ghi nhận Dato-DXd giúp kéo dài mPFS lên 10,8 tháng so với 5,6 tháng ở nhóm hóa trị và mOS đạt tới 23,7 tháng. Tỷ lệ đáp ứng (ORR) đạt 62,5% cao gần gấp đôi so với nhóm hóa trị; trong đó tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn đạt 9%, so với 2,5%. Thời gian duy trì đáp ứng trung vị có thể lên tới 12,3 tháng.

Dato-DXd cũng giúp kéo dài thời gian chuyển sang bước điều trị tiếp theo. TFST đạt 10,9 tháng so với 5,6 tháng, PFS2 đạt 15,6 tháng so với 11,8 tháng, trong khi TSST đạt 16,7 tháng so với 12,6 tháng ở nhóm hóa trị.

Bên cạnh đó, nghiên cứu pha III TROPION-Breast05 đang tiếp tục đánh giá tiềm năng của Dato-DXd khi kết hợp với liệu pháp miễn dịch trong điều trị bước 1 ở bệnh nhân mTNBC có PD-L1 dương tính.

DS.CKI Hồ Thị Hoàng Oanh trình bày báo cáo “Cơ chế tác dụng và quản lý biến cố ngoại ý của liệu pháp ADC hướng TROP2 “

DS.CKI Hồ Thị Hoàng Oanh trình bày báo cáo “Cơ chế tác dụng và quản lý biến cố ngoại ý của liệu pháp ADC hướng TROP2 “

Ở góc độ dược sĩ lâm sàng, DS.CKI Hồ Thị Hoàng Oanh, Phó khoa Dược, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM phân tích chuyên sâu về cơ chế và quản lý biến cố bất lợi của ADC hướng TROP2.

Liệu pháp liên hợp kháng thể – thuốc (ADC) hướng TROP2 hoạt động dựa trên cơ chế kết hợp giữa một kháng thể tìm mục tiêu và một chất độc diệt tế bào. Khi kháng thể bám chính xác vào protein TROP2 trên bề mặt tế bào ung thư, toàn bộ phức hợp này sẽ được đưa vào bên trong tế bào để giải phóng chất độc tiêu diệt khối u.

Đặc biệt, nhờ hiệu ứng “lân cận” (bystander effect), chất độc sau khi giải phóng còn có khả năng tự do thẩm thấu sang diệt tiếp các tế bào ung thư lân cận trong vi môi trường khối u, ngay cả đối với những tế bào bộc lộ ít hoặc không bộc lộ TROP2.

Bên cạnh hiệu quả rõ rệt, việc nhận diện và xử trí kịp thời các biến cố bất lợi đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình điều trị. Với thuốc Dato-DXd, biến cố về mắt xuất hiện ở khoảng 38% bệnh nhân với các biểu hiện như nhìn mờ, khô mắt hoặc cộm xước. Bệnh nhân được khuyến cáo phòng ngừa bằng cách nhỏ nước mắt nhân tạo không chất bảo quản tối thiểu 4 lần mỗi ngày, khám mắt định kỳ và tuyệt đối không đeo kính áp tròng.

Đồng thời, tình trạng viêm niêm mạc miệng cần được chủ động phòng ngừa bằng cách súc miệng bằng dung dịch Dexamethasone, chườm lạnh niêm mạc miệng trong lúc truyền thuốc và giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ.

Bệnh phổi kẽ hoặc viêm phổi (ILD) là biến cố nguy hiểm nhất cần được theo dõi sát sao, bệnh nhân cần được chụp CT ngực ngay khi xuất hiện các triệu chứng ho khan, sốt hoặc khó thở. Nếu xét nghiệm xác định viêm phổi từ độ 2 trở lên, bác sĩ bắt buộc phải cho ngừng dùng thuốc vĩnh viễn và tiến hành điều trị ngay bằng corticosteroid liều cao.

Mặt khác, với thuốc Sacituzumab govitecan, hai biến cố đặc trưng cần lưu ý là giảm bạch cầu và tiêu chảy. Bệnh nhân cần được theo dõi công thức máu thường xuyên để tạm hoãn liều khi chỉ số bạch cầu xuống quá thấp, đồng thời phối hợp sử dụng các thuốc kích dòng bạch cầu (G-CSF) và thuốc cầm tiêu chảy khi cần thiết.

TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng phát biểu tổng kết tại buổi sinh hoạt khoa học

TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng phát biểu tổng kết tại buổi sinh hoạt khoa học

Phát biểu tổng kết, TTND.TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng nhấn mạnh, các dữ liệu lâm sàng mới đươc cập nhật trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục củng cố vai trò của liệu pháp ADC hướng TROP2 trong việc thay đổi diện mạo điều trị mTNBC. Bên cạnh việc lựa chọn điều trị phù hợp, cần chủ động dự phòng, theo dõi và phát hiện sớm các biến cố. Từ đó, bác sĩ có thể xử trí kịp thời theo mức độ độc tính, duy trì hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Để ứng dụng thành công các phác đồ mới này, đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên khoa giữa Giải phẫu bệnh, Chẩn đoán hình ảnh và Nội Ung Bướu, nhằm đánh giá toàn diện tình trạng bệnh và cá thể hóa điều trị. Hướng tới mục tiêu tối ưu hiệu quả điều trị, kiểm soát độc tính và duy trì chất lượng sống cho người bệnh.

Thông qua chương trình sinh hoạt khoa học, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh tiếp tục cập nhật các bằng chứng y học mới, tăng cường trao đổi chuyên môn và thúc đẩy việc tiếp cận, vận dụng các khuyến cáo quốc tế phù hợp vào thực hành lâm sàng. Những hoạt động này góp phần nâng cao năng lực điều trị ung thư vú giai đoạn tiến xa, hướng đến chiến lược cá thể hóa, an toàn và toàn diện, đồng hành cùng người bệnh trong hành trình điều trị.

VIỆN NGHIÊN CỨU TÂM ANH